Màu sắc và Chất lượng In, Chương I: Ánh sáng và màu sắc.

Chương I: Ánh sáng và màu sắc

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy màu sắc. Với sự trợ giúp của màu sắc chúng ta có thể nhìn nhận rõ ràng mọi vật xung quanh để làm cho cảm giác của chúng ta tốt hơn. Các thiết kế nội thất và sự phối trộn màu ảnh hưởng trực tiếp đến ấn tượng và cảm giác của chúng ta. Các màu có thể dùng chung được với nhau sẽ tạo ra một sự cân bằng hài hòa làm cho chúng ta có cảm nhận tốt. Ngành công nghiệp in cũng sử dụng các màu để thể hiện ấn phẩm hiệu quả hơn. Các yêu cầu về chất lượng từ phía khách hàng đang không ngừng tăng. Để đáp ứng các yêu cầu này, các tiêu chuẩn chất lượng mới đã được đặt ra.

Để đánh giá các màu, trước hết chúng ta phải nhìn thấy chúng. Để nhìn thấy chúng ta cần có ánh sáng. Mặt trời tỏa ra ánh sáng. Đó là nguồn sáng sơ cấp.

Tuy nhiên, hầu hết đối tượng trong môi trường của chúng ta lại không thể tự tỏa sáng. Chúng ta được gọi là nguồn sáng thứ cấp. Chúng ta chỉ cảm nhận được các đối tượng này và màu sắc của chúng khi chúng được chiếu sáng.

Ánh sáng là bức xạ lan truyền rất nhanh với tốc độ 300.000 km/giây. Nói đúng ra, ánh sáng bao gồm các dao động điện từ được truyền đi từ nguồn sáng dưới dạng sóng. Giống như sóng nước, mỗi sóng anh sáng bao gồm phần lồi lên và phần lõm xuống.

Các sóng được phân loại theo chiều dài bước sóng hay số do động mà chúng ta thực hiện trong một giây. Các bước sóng thường có đơn vị là km, m, cm, mm, nm hay picomet. Số do động sóng trong một giây, gọi là tần số được đo bằng đơn vị Hz.

Các bước sóng có chiều dài khác nhau có những đặc tính khác nhau. Thí dụ như tia X được dùng để chuẩn đoán trong y khoa, nhiều bà nội trợ được trang bị các lò viba để nấu và hâm nóng thức ăn. Các loại sóng khác được dùng trong việc truyền tín hiệu điện thoại, radio và tivi.

Chỉ có một khoảng sóng điện từ rất nhỏ được nhìn thầy dưới dạng màu của ánh sáng. Phần thấy được của quan phổ sóng trải dài từ 380 nm (tia cực tím) đến 780 nm (tia hồng ngoại). Ánh sáng có thể được tách ra thành các thành phần màu bằng lăng kính. Ánh sáng trắng được phối trộn bởi tất cả các màu trong dải quan phổ và được tách thành các màu trong cầu vồng.

Hình minh họa trên cho thấy chiều dài các bước sóng từ Đỏ (Red) đến Lục (Green) rồi đến Xanh (Blue) càng lúc càng ngắn dần.

1.2: Cảm nhận màu thấy được

Chỉ qua sự liên kết với ánh sáng mà màu sắc của vật thể mới trở nên thấy được – tại sao?

Màu sắc không thể được xem là đặc tính riêng của một vật thể là hình thù của vật thể đó. Đặc tính cố hữu của các vật thể là hấp thụ hoặc phản xạ các bước sóng nào đó.

Chúng ta chỉ có thể cảm nhận các màu tương ứng với các bước sóng phản xạ.

Nếu ánh sáng trắng được chiếu vào một đối tượng sẽ có một khả năng dưới đây xảy ra:

    – Tất cả ánh sáng bị hấp thụ. Trong trườg hợp này, chúng ta cảm nhận đối tượng có màu đen.
    – Tất cả ánh sáng được phản xạ. Trong trường hợp này, đối tượng có màu trắng
    – Tất cả ánh sáng đều đi qua đối tượng. Trong trường hợp này màu của ánh sáng không đổi.
    – Một phần ánh sáng bị hấp thụ, phần còn lại được phản xạ. Trong trường hợp này ta cảm nhận được màu tùy thuộc vào bước sóng nào của ánh sáng được phản xạ và bước sóng nào được hấp thụ.
    – Một phần ánh sáng bị hấp thụ, phần còn lại được xuyên qua đối tượng. Trong trường hợp này ta cảm nhận được màu sắc tùy thuộc vào bước sóng nào của ánh sáng bị hấp thụ, bước sóng nào xuyên qua.
    – Một phần ánh sáng được phản xạ, phần còn lại đi qua. Trong trường hợp này màu sắc của ánh sáng được phản xạ và màu của ánh sáng đi xuyên qua sẽ thay đổi.

Những đặc tính của đối tựơng được chiếu sáng quyết định việc cảm nhận màu sẽ rơi vài một trong các trường hợp trên.

Ánh sáng phản xạ hay truyền qua đối tượng được mắt người ghi nhận và chuyển thành các xung thần kinh kích hoạt cảm nhận màu trong bộ não.

Võng mạc của mắt người có vô vàn tế bào nhạy sáng. Có hai loại tế bào: tế bào hình que và tế bào hình nón. Tế bào hình que phân biệt độ sáng tối trong khi tế bào hình nón ghi nhận màu sắc. Có 3 loại tế bào hình nón, 1 loại phản ứng các bước sóng cố định trong dải quang phổ từ 400 đến 500 nm cho cảm giác màu Blue; một loại phản ứng với bước sóng từ 500 đến 600nm cho cảm giác màu Green và một loại phản ứng với bước sóng từ 600 đến 700nm cho cảm giác màu Red.

1.3 Hỗn hợp Màu

1. Hỗn hợp màu cộng.

Hỗn hợp cộng màu là sự phối hợp các bước sóng ánh sáng để tạo ra các màu sắc khác nhau. Nếu tất cả các màu của quang phổ được phối hợp lại ta sẽ có màu trắng.

Red, green và Blue là các màu sơ cấp của hỗn hợp màu cộng. Chúng còn được gọi là các màu một phần ba, vì mỗi màu đại diện cho một phần ba dải quang phổ thấy được.

Nguyên lý cơ bản của hỗn hợp màu cộng có thể được mô tả dễ dàng với ba vòng tròn màu, mỗi vòng tròn màu đại diện cho một chùm sáng màu sơ cấp của tổng hợp cộng được chiếu lên màn hình. Giao điểm của các màu sơ cấp chính là các màu thứ cấp.

Tại các vùng giao nhau của ba chùm sáng có các màu thứ cấp được tạo ra:

Green + Red = yellow
Green + blue = cyan
Blue + red = magenta
Blue + red + green = trắng
Không có nguồn sáng = đen

Nguyên lý của tổng hợp màu cộng được sử dụng trong tivi màu, trong chiếu sáng trên sân khấu để tạo ra toàn các màu trong dãi quang phổ thấy được.

    2.Hỗn hợp màu trừ

Cyan, Mangenta và Yellow là các màu sơ cấp của hỗn hợp màu trừ, chúng còn được gọi là màu hai phần ba vì chúng đại diện cho hai phần ba khoảng quan phổ thấy được.

Các màu hỗn hợp trừ được tạo ra bằng cách bớt đi (trừ đi) một màu cộng sơ cấp từ ánh sáng trắng (thí dụ như dùng kính lọc) hay bằng cách cộng hai màu sơ cấp của tổng hợp màu cộng.

Mực in là các vật liệu trong suốt đóng vai trò của các kính lọc màu. Màu nào sẽ được tạo ra nếu màu Blue được hấp thụ bởi mực in khi in trên giấy trắng?

Màu Blue được loại bỏ từ ánh sáng trắng và các màu quang phổ còn lại của ánh sáng trắng được phẩn xạ. Việc tổng hợp hai thành phần quang hổ còn lại (R và G) sẽ tạo ra màu Yellow và màu Yellow chính là màu mà ta cảm nhận được. Mực in đã trừ bớt đi một phần ba quang phổ của ánh sáng (màu Blue) và cho hai phần ba màu còn lại đi qua (R và G).

Hãy giả sử rằng có hai màu mực trong suốt được in chồng lên nhau. Thí dụ đó là hai màu Yellow và Cyan. Hai màu mực in này có tác dụng loại trừ hai màu Red và Blue ra khỏi ánh sáng trắng. Kết quả là ta cảm nhận được màu Green. Như vậy mực in đã trừ hai phần ba thành phần của ánh sáng trắng.

Khi Cyan, Magenta và Yellow được in chồng lên nhau chúng sẽ hấp thụ hết các thành phần của ánh sáng trắng nên không có ánh sáng màu nào phản xạ tới mắt ta cả, do vậy ta cảm nhận được màu đen.

Trong tổng hợp màu trừ, khi các màu mực Cyan, magenta và Yellow được in chồng lên nhau sẽ tạo ra các màu thứ cấp sau:

Cyan + Yellow = Green
Yellow + magenta = Red
Magenta + Cyan = Blue
Cyan + Magenta + Yellow = Đen
Không có mực = trắng

    3.Tổng hợp màu tương hỗ

Các hình ảnh màu được in bằng cách sử dụng bốn màu mực Cyan, Magenta, Yellow và Black (đen). Mực in màu Đen cải thiện độ sắc nét và chiều sau của hình ảnh. Do đặc tính của các hạt màu của mực màu, nên màu Đen được tạo bằng cách phối hợp các màu Cyan, Magenta và Yellow thực sự không bao giờ được đen đậm như ý muốn.

Trong in Offset kích thước các điểm tram tùy thuộc vào tông màu mong muốn. Khi in, các điểm tram của các màu sẽ nằmg cạnh nhau, nằm chồng lên nhau một phần hoặc nằm chông hoàn toàn lên nhau. Nếu chúng ta quan sát các điểm tram bằng kính phóng đại (xem hình) chúng ta cảm nhận được màu sắc từ kết quả của tổng hợp màu trừ (trừ màu trắng của giấy). Tuy nhiên, nếu không dùng kính phóng đại và nhìn tờ in với khoảng cách thông thường, mắt ngừơi không thể phân biệt được từng điểm tram nhỏ. Trong trường hợp này các màu được in đã được tổng hợp cộng.

Việc phối hợp giữa hỗn hợp màu cộng và màu trừ được gọi là hỗn hợp màu tương hỗ.

    4.Các hệ thống phân loại màu

Mỗi người cảm nhận màu một cách khác nhau. Nếu ta hỏi nhiều người về màu của một vậtnào đó ta sẽ nhận được những câu trả lời khác nhau.

Tuy nhiên, các nhà in cần có một tiêu chuẩn cho việc xác định màu. Vì mục đích này nhiều hệ thống phân loại màu khác nhau đã được thiết lập. Một vài hãng sản xuất mực in đã cho in các quyển sách mẫu màu và đặt tên cho các màu, thí dụ như: “Novavit 4F 434”. Các hãng sản xuất khác sử dụng quạt màu như HKSPantone. Vòng tròn màu cũng là một công cụ hỗ trợ. Nó có thể gồm 6, 12, 24 hay nhiều phần hơn nữa. Tất cả các hệ thống này liệt kê các thí dụ vềcác tông màu riêng biệt rồi đặt tên cho chúng. Các hệ thống màu này không phải bao giờ cũng hoàn hảo và đa số hầu như không thích hợp cho việc tính toán.

Như ta đã biết, cảm giác về màu của chúng ta phụ thuộc vào việc kích thích các tế bào thu nhận tín hiệu của mắt, các tế bào này nhạy cảm với các màu Red, Green và Blue. Vì vậy việc phân loại màu một cách rõ ràng dựa trên cơ sở 3 giá trị màu này là cần thiết.

Với sự hỗ trợ của một hệ thống như thế màu Green có thể được tính như sau: Green = 0xRed + 1xGreen + 0xBlue, hoặc gọn hơn: G = 0 x R + 1 x G + 0 x B.

Nếu ta vẽ các màu cơ bản theo các trục của một hệ trục tọa độ ta sẽ có được không gian màu.

Nhiều chuyên gia đã thảo luận về các hệ thống phân loại màu và thiết lập nên các khái niệm khác nhau về cách thiết kế một không gian màu. Tất cả các không gian màu này đều có những ưu điểm và nhược điểm.

Một số không gian màu quan trọng nhất đã được tiêu chuẩn hóa trên phạm vi toàn cầu. Chúng được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp, thí dụ như trong công nghiệp nhuộm và sơn, trong ngành công nghiệp dệt, thực phẩm và y tế. Biểu đồ màu tiêu chuẩn CIE cho đến nay đã được chấp nhận ở mọi nơi.

Hệ thống này sử dụng các biến số X, Y và Z là các giá trị định lượng màu thay vì R, G, B. Vì các lý do thực tế các tọa độ màu x, y và hệ số độ sáng Y được quyết định từ các tọa độ này (Hệ số độ sáng Y được dùng để đo độ sáng của một vật thể màu). Vị trí của mỗi màu có thể được xác định chính xác bằng cách sử dụng 3 trục tọa độ này.

Các màu có cùng độ sáng có thể được vẽ trong không gian 2 chiều dưới dạng mặt phẳng hơn. Phần cắt ngang vuông góc với trục độ sáng Y trong không gian màu CIE là biểu đồ màu CIE.

Các màu phổ là các màu có độ bão hòa tối đa có tểh phục chế được cho một tông màu (bước sóng). Chúng nằm trên đường biên của biểu đồ màu CIE. Hình minh họa nằm chỉ vị trí của màu phổ tương ứng với bước sóng của nó tính bằng đơn vị nm. Đường thẳng nối bước sóng 380 nm và 780nm được gọi là đường màu đỏ tía. Tất cả các màu được tổng hợp cộng giữa các màu phổ nằm trong khu vực được bao bởi các điểm màu phổ và đường màu đỏ tía.

Điểm trung tâm của hệ trục tọa độ x = 0.333 và y = 0.333 được gọi tắt là điểm E (Equi – Energy Spectrum – Điểm cân bằng năng lượng phổ) và đôi khi còn gọi là điểm A (Achromatic – điểm không màu)

Các màu thấy được trong mặt phẳng màu cắt ngang trục độ áng sáng của không gian màu CIE (Biểu đồ màu tiêu chuẩn).

Độ bão hòa của các màu tăng dần từ tâm ra ngoài biên.

Thang màu Châu Âu DIN 16 539 cũng như khoảng màu có thể phục chế được khi in. Sự phân bổ này rất tương đồng với tất cảc các giá trị độ sáng.

Các tông màu nằm trong hình lục giác ở có thể phục thế được bằng phương pháp in Offset 4 màu dùng thang Châu Âu. Các tông màu nằm bên ngoài chỉ có thể phục chế với sự hỗ trợ của các màu đặc biệt.

Khoảng màu có thể phục chế được theo DIN 16 539

Trong thang màu Châu Âu DIN 16 539, các giá trị dưới đây đối với giấy tráng phấn đã được xác định cho các điều kiện in và đo đạc.

Các giá trị x, y, và Y được đo bằng máy đo phổ. Chúng còn được đo với các máy đo cầm tay hay các máy tính nối trực tuyến với máy đo kiểm tra (thí dụ như Heidelberg CPC 21).

Thietkemythuat.com – Nguồn: Sưu tầm

Published by

John Le

tâm,nhẹ như chiếc lá

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s